I. TRI THỨC VỀ THỂ LOẠI
II. ĐỌC VĂN BẢN
1. Trên cành khô
cánh quạ đậu
chiều thu.
(Ba-sô Basho, Nhật Chiêu dịch, Ba-sô và thơ hai-cư,
NXB văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr.23)
2. Ôi hoa triêu nhan!
Dây gàu vương hoa bên giếng
Đành xin nước nhà bên
(Chi-y-ô Chiyo, Nhật Chiêu dịch, Ba nghìn thế giới thơm,
NXB văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tr.314)
3. Chậm rì, chậm rì
Kìa con ốc nhỏ
Trèo núi Phu-gi (Fuji).
(Ít-sa Issa, Nhật Chiêu dịch,
Ba nghìn thế giới thơm, Sđd, tr.385)
III. TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1. Tác giả
a) Mát-chư-ô Ba-sô (Matsuo Basho) 1644-1694
Matsuo Basho 松尾笆然 (Tùng Vĩ Ba Tiêu, 1644–1694), thiền sư thi sĩ lỗi lạc của thời Edo 江户 tại Nhật Bản, tên thật là Matsuo Munefusa, con trai út thứ bảy của một samurai cấp thấp phục vụ cho lãnh chúa thành Ueno, một ngôi thành nằm giữa con đường đi từ Kyoto đến Ise.
Basho được thừa nhận là người phát triển những câu đầu (発句, phát cú) của thể renga (連歌, liên ca) thành một thể thơ độc lập mang âm hưởng sâu thẳm của Thiền đạo. Masaoka Shiki (1867–1902) hoàn thiện sự tách biệt này thêm nữa và chuyển sang gọi nó là thể haiku (俏句, bài cú).
Ông có công lớn trong việc hoàn thiện thơ hai-cư, đưa nó trở thành thể thơ độc đáo nhất của Nhật Bản.
Đọc thêm về tác giả Matsuo Basho tại đây:
http://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/12751-matsuo-basho-nha-khai-sang-tho-haiku

b) Phư-cư-ma-xư-y-a Chi-yô (Fukumasuya Chiyo) 1703–1775
Fukuda Chiyo-ni (Kaga no Chiyo, 福田 千代尼, Phúc Điền Thiên Đại Ni, 1703–1775) là nữ thi sĩ Nhật Bản thời kỳ Edo (1603–1867), nổi tiếng thần đồng với các sáng tác thơ Haiku từ năm 7 tuổi. Bà được coi là nhà thơ nữ nổi tiếng nhất của Nhật Bản về thể thơ haiku. Thơ của bà nói về thiên nhiên và sự hợp nhất giữa thiên nhiên và con người.
Là người đánh dấu sự hiện diện của các tác giả nữ trong truyền thống thơ hai-cư. Trước bà, thơ hai-cư của tác giả nữ thường bị coi thường và quên lãng. Bà đã trở thành một tiếng nói thơ độc đáo, được nhiều người yêu thích.
Đọc thêm về tác giả Fukumasuya Chiyo tại đây:

c) Cô-ba-y-a-si Ít-sa (Kobayashi Issa) 1763–1828
Kobayashi Issa (小林 一茶, 15 tháng 6 năm 1763 – 5 tháng 1 năm 1828) là một nhà thơ Nhật Bản và là một nhà sư Phật giáo tại gia của Jōdo Shinshū. Ông được biết đến với những bài thơ haiku và nhật ký của mình. Ông được biết đến nhiều hơn với cái tên đơn giản là Issa (一茶), một bút danh có nghĩa là Tách trà (nghĩa đen là "một tách trà").
Ông còn là một hoạ sĩ tài ba, nổi tiếng với những bức tranh cổ đề các bài thơ hai-cư do chính ông sáng tác.
Đọc thêm về tác giả Kobayashi Issa tại đây:
https://www.poetryfoundation.org/poets/kobayashi-issa

Tài liệu đọc mở rộng: Nhật Chiêu (2007), 3000 thế giới thơm, NXB. Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tài liệu đọc mở rộng: Nhật Chiêu (1999), Nhật Bản trong chiếc gương soi, NXB Giáo Dục, 1999.
Thẻ ghi nhớ Flashcard
IV. NHIỆM VỤ TRƯỚC KHI ĐẾN LỚP
1. Đọc văn bản
- Các em đọc phần Văn bản 1, 2, 3. Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản, xem tư liệu đã được GV giới thiệu ở mục I, II, III.
2. Sưu tầm hình ảnh
- Các em sưu tầm những hình ảnh đặc trưng về đất nước Nhật Bản.
- Click vào bảng dưới đây để đưa sản phẩm của mình vào bảng trình bày:
3. Hoàn thành sơ đồ tư duy
- HS hoàn thành sơ đồ tư duy về đặc điểm thơ hai-cư với các tiêu chí nguồn gốc; đặc điểm hình thức, nội dung; tác giả tiêu biểu.
4. Xem bài giảng SCORM
- Các em xem bài giảng Scorm trong thư mục "Bài giảng điện tử". GV yêu cầu HS tìm hiểu nội dung bài thơ hai-cư số 1 gồm:
Hãy xác định quý ngữ của bài thơ?
Nêu các hình ảnh nổi bật trong bài thơ. Các hình ảnh thơ đó có tính chất, đặc điểm gì?
Từ đó, hãy xác định ý nghĩa triết lí của bài thơ?
Hoàn thành các câu hỏi Ispring có trong bài giảng SCORM
5. Ghi lại những băn khoăn về tác giả và văn bản 1,2,3
- Các em truy cập thư mục "Cộng đồng" ghi lại những băn khoăn về các tác giả và văn bản 1,2,3. Chùm thơ hai-cư Nhật Bản.