MÙA XUÂN CHÍN (HÀN MẶC TỬ)

 

I. TRI THỨC VỀ THỂ LOẠI

Thẻ ghi nhớ Flashcard

  Thơ là hình thức tổ chức ngôn từ đặc biệt, tuân theo một mô hình thi luật hoặc nhịp điệu nhất định. Mô hình này làm nổi bật mối quan hệ giữa âm điệuý nghĩa của ngôn từ thơ ca. Với hình thức ngôn từ như thế, thơ có khả năng diễn tả được những tình cảm mãnh liệt hoặc những ấn tượng, xúc động tinh tế của con người trước thế giới.

 Thơ trữ tình là loại tác phẩm thơ thường có dung lượng nhỏ, thể hiện trực tiếp cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình.

 Hình ảnh thơ là các sự vật, hiện tượng, trạng thái đời sống được tái tạo một cách cụ thể, sống động bằng ngôn từ, khơi dậy cảm giác (đặc biệt là những ấn tượng thị giác) cũng như gợi ra những ý nghĩa tinh thần nhất định đối với người đọc.

 Nhân vật trữ tình (Còn gọi là chủ thể trữ tình) là người trực tiếp bộc lộ rung động và tình cảm trong bài thơ trước một khung cảnh hoặc sự tỉnh táo nào đó. Nhân vật trữ tình có mối liên hệ mật thiết với tác giả song không hoàn toàn đồng nhất với tác giả.


  Vần thơ: sự cộng hưởng, hoà âm theo quy luật giữa một số âm tiết trong hay cuối dòng thơ. Vần có chức năng liên kết các dòng thơ và góp phần tạo nên nhịp điệu, nhạc điệu cũng như giọng điệu của bài thơ.

 Nhịp điệu: những điểm ngắt hay ngừng theo chu kì nhất định trên văn bản do tác giả chủ động bố trí. Nhịp điệu chứa đựng sự lặp lại có biến đổi của các yếu tố ngôn ngữ và hình ảnh nhằm gợi ra cảm giác về sự vận động của sự sống và thể hiện cảm nhận thẩm mĩ về thế giới.

 Nhạc điệu: cách tổ chức các yếu tố âm thanh của ngôn từ để lời văn gợi ra cảm giác về âm nhạc (âm hưởng, nhịp điệu). Trong thơ, những phương thức cơ bản để tạo nhạc điệu là gieo vần, ngắt nhịp, điệu, phối hợp thanh điệu bằng - trắc,...

 Đối: Cách tổ chức lời văn thành hai vế cân xứng và sóng đôi với nhau cả về ý và lời. Căn cứ vào sự thuận chiều hay tương phản về ý và lời, có thể chia đối thành hai loại: đối cân (thuận chiều), đối chọi (tương phản).

 Thi luật: toàn bộ những quy tắc tổ chức ngôn từ trong thơ như gieo vần, ngắt nhịp, hoà thanh, đối, phân bố số tiếng trong một dòng thơ, số dòng trong cả bài thơ,...

 Thể thơ: sự thống nhất giữa mô hình thi luật và loại hình nội dung của tác phẩm thơ. Các thể thơ được hình thành và duy trì sự ổn định của chúng trong quá trình phát triển của lịch sử văn học.


II. ĐỌC VĂN BẢN

Mùa xuân chín

Hàn Mặc Tử

Trong làn nắng ủng khỏi mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.

Sông cỏ xanh tươi gọn tối trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước máy
Thầm thị với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
– Chị ấy, năm nay còn gành thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

(Thơ Hàn Mặc Tử, Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình, 1988, tr.78)

Ngâm thơ Hàn Mặc Tử: Mùa xuân chín (Ngô Phương ngâm thơ)

 



III. TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 

1. Tác giả

a. Con người và cuộc đời

Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ra ở huyện Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Năm mười tám tuổi, ông theo gia đình vào sống tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. 

Hàn Mặc Tử sáng tác với nhiều bút danh như Lệ Thanh, Phong Trần, Minh Duệ Thị,... Ông là một đại diện độc đáo của Phong trào Thơ mới, là nhân vật trụ cột của Trường thơ loạn Bình Định - một nhóm thi sĩ cùng chia sẻ nhiều quan điểm thẩm mĩ táo bạo, bao gồm Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan, Bích Khê, Hoàng Diệp,...

Hàn Mặc Tử bén duyên với thơ ca từ rất trẻ, năm 16 tuổi ông đã bắt đầu sáng tác thơ với bút danh là Lệ Thanh, Phong Trần. Đến năm 1936 ông đổi bút danh là Hàn Mạc Tử, sau đó lại đổi thành Hàn Mặc Tử.

 Ông có một thời gian sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, tại đây ông làm phóng viên phụ trách cho tờ báo “Công luận”. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.

Năm 1940, khi vừa bước sang tuổi 28 Hàn Mặc Tử mắc căn bệnh phong và qua đời ở một độ tuổi rất trẻ. Thế nhưng những tác phẩm của ông để lại cho nền văn học Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi sĩ.

b. Phong cách sáng tác

Thơ Hàn Mặc Tử bộc lộ một thế giới nội tâm mãnh liệt với những cung bậc cảm xúc được đẩy đến tột cùng. Ngôn ngữ thơ của ông giàu cảm giác mạnh với nhiều hình ảnh độc đáo, thể hiện trí tưởng tượng phóng khoáng, thậm chí dị kì.

Là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ mới. Thế giới văn chương của ông luôn phong phú đầy màu sắc mang đậm phong cách cá nhân. Ông đã đưa vào Thơ mới sự sáng tạo, những hình ảnh đầy ấn tượng. Thế giới nội tâm đa dạng Hàn Mặc Tử đem đến cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm để đời. Ngoài sử dụng bút pháp lãng mạn, ông còn sử dụng bút pháp tượng trưng và bút pháp siêu thực.

Đọc thơ của Hàn Mặc Tử ta bắt gặp một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu con người da diết. Một khát vọng sống đến mãnh liệt đến đau đớn tột cùng. Một người thi sĩ đa tài nhưng cuộc sống ngắn ngủi. Mặc dù ra đi ở tuổi đời rất trẻ nhưng sự nghiệp Thơ ca của ông vô cùng đồ sộ.

2. Tác phẩm

Mùa xuân chín là bài thơ do Hàn Mặc Tử sáng tác, được xếp ở phần Hương thơm trong tập thơ Đau thương. Cùng với Đây thôn Vĩ dạ, Tình quê... đây là những thi phẩm đầy thơ mộng viết về cảnh quê, tình quê của Hàn Mặc Tử.

  • Bài thơ là một bức tranh mùa xuân nơi thôn dã, tất cả đều đậm vẻ xuân, xuân trong cảnh vật và xuân trong lòng người.. Tuy nhiên, theo các nhà chuyên môn, bài thơ còn ẩn chứa những ý nghĩa sâu xa khác (xem phần bình).

Chưa rõ thời điểm sáng tác Mùa xuân chín, nhưng theo Trần Thanh Mại thì: "Qua cái năm bệnh hoạn đầu, nghĩa là vào cuối năm 1937, Hàn Mặc Tử gom góp xong tập thơ làm trên giường bệnh, theo một thể tài mới mà chàng gọi Thơ Điên",nghĩa là thi phẩm đã được sáng tác trước thời điểm đó.

 

  • Mai Văn Hoan:
Muốn hiểu chủ đề của "Mùa xuân chín" tốt nhất là ta thử làm phép so sánh, đối chiếu hai khổ thơ đầu và khổ thơ cuối.
Trước mắt chúng ta hiện lên hai bức tranh gần như hoàn toàn đối lập nhau. Một bên "Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời", còn bên kia "Dọc bờ sông trắng nắng chang chang". Một bên "Bao cô thôn nữ hát trên đồi", còn bên kia "Chị ấy năm nay còn gánh thóc". Một còn xuân xanh, một đã qua thời tuổi trẻ. Một bên đông đảo vui vẻ, một bên lặng lẽ cô đơn... Mùa xuân ở trên là mùa xuân đang xanh, còn ở dưới là mùa xuân đã chín...
Ở câu gần cuối bài, Hàn Mặc Tử có ý nhấn mạnh chữ "còn". Trong khi bao cô thôn nữ đang hát hò vui vẻ thì chị ấy "còn" gánh thóc, từ năm này qua năm khác giữa cái nắng "chang chang" như vậy. Và từ hình ảnh chị ấy còn đang gánh thóc, mà thi sĩ ngậm ngùi cho bao cô thôn nữ ở trên...
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.
 Đó là quy luật ít ai cưỡng được. Thi sĩ biết vậy mà cứ tiếc thầm cho họ. Và biết đâu cũng như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử cũng tiếc cho cả tuổi xuân của mình...[4].

Một số tập thơ tiêu biểu của Hàn Mặc Tử: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1942), Chơi giữa mùa trăng (thơ không vần, 1944)

 

3. Phong trào thơ mới (1932 - 1945)

Phong trào Thơ mới được xem là sự kiện mở ra "một thời đại của thi ca" Việt Nam. Thơ mới đánh dấu sự chấm dứt của mười thế kỉ thơ ca trung đại, đưa thơ Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại. Thơ mới chịu ảnh hưởng của thơ ca Pháp, đặc biệt là chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng, nhưng về cơ bản, Thơ mới là hiện tượng được nảy sinh và phát triển từ khát vọng và giải phóng cái tôi cá nhân và nhu cầu đổi mới nghệ thuật của các nhà thơ Việt Nam.

Về nội dung, Thơ mới bộc lộ những tình cảm, cảm xúc cá nhân cũng như ý thức cá tính của con người với nhiều biểu hiện đa dạng độc đáo. 

Về mặt hình thức, Thơ mới đã thực hiện một cuộc đột phá mạnh mẽ vào những nguyên tắc thi pháp chi phối mười thế kỉ thơ trung đại Việt Nam. Bài thơ được tổ chức theo dòng chảy tự nhiên của cảm xúc thay vì theo mô hình luật thơ đã định sẵn từ trước. Câu thơ và các phương thức gieo vần, ngắt nhịp, tạo nhạc điệu trở nên linh hoạt, tự do hơn. Hình ảnh thơ thể hiện rõ nét dấu ấn chủ quan trong cách nhà thơ quan sát, cảm nhận và tưởng tượng về thế giới.

Với những cách tân quan trọng cả về nội dung và hình thức, Thơ mới đã mở ra nhiều khả năng phát triển đa dạng của thơ Việt Nam hiện đại.


Trò chơi "Giải ô chữ"

IV. NHIỆM VỤ TRƯỚC KHI ĐẾN LỚP

1. Đọc văn bản

- Tìm hiểu tri thức Ngữ văn qua thẻ ghi nhớ Flashcard.

- Đọc văn bản Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử

- Nghe audio đọc tác phẩm

- Xem, gạch chân các từ khóa nội dung về tác giả Hàn Mặc Tử và tác phẩm, chú ý các thẻ đọc xuất hiện trong bài.

- Thực hiện trò chơi “Giải ô chữ” trên website.

2. Nghe và thực hiện các nhiệm vụ trong bài giảng Scorm

- Hoàn thành các nhiệm vụ sau vào vở:

 

 

- Hoàn thành hệ thống câu hỏi trên ispring.

3. Chia sẻ cảm nhận trên thư mục Cộng đồng

- Các em truy cập thư mục “Cộng đồng” ghi lại những băn khoăn về các tác giả và văn bản.

Loading...