Nắm được nội dung, vị trí của đoạn trích trong tác phẩm; hoàn cảnh, số phận, tính cách từng nhân vật và mối quan hệ giữa các nhân vật; tư tưởng nhân văn cao đẹp của tác giả thể hiện ở quan niệm về các giá trị của con người.
Hiểu được quyền năng của người kể chuyện ngôi thứ ba thể hiện ở mức độ thấu suốt diễn biến của câu chuyện cũng như mọi thay đổi tinh vi trong hành động, suy nghĩ của nhân vật; sự chuyển dịch linh hoạt điểm nhìn trong kể chuyện; khả năng chi phối cách nhìn nhận, đánh giá của người đọc về sự việc, nhân vật được miêu tả trong tác phẩm.
1. Người kể chuyện ngôi thứ nhất
Là người kể xưng "tôi" hoặc một hình thức tự xưng tương đương. Tuỳ theo mức độ tham gia vào mạch vận động cốt truyện, người kể ngôi thứ nhất có thể là nhân vật chính, nhân vật phụ, người chứng kiến, người kể lại câu chuyện được nghe từ người khác hay xuất hiện với vai trò tác giả “lộ diện”. Người kể chuyện ngôi thứ nhất thường là người kể chuyện hạn tri (không biết hết mọi chuyện), trừ trường hợp tác giả “lộ diện” vận dụng quyền năng “biết hết”.
Là người kể chuyện ẩn danh, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm như một nhân vật, không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện và chỉ được nhận biết qua lời kể. Người kể chuyện ngôi thứ ba có khả năng nắm bắt tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện, kể cả nội tâm nhân vật, do vậy có thể là người kể chuyện toàn tri (biết hết), nhưng việc sử dụng quyền năng ấy tùy thuộc vào nguyên tắc tổ chức của mỗi tác phẩm.
Lời người kể chuyện là lời kể, tả, bình luận của người kể chuyện, có chức năng khắc hoạ bối cảnh, thời gian, không gian, miêu tả sự việc, nhân vật, thể hiện cách nhìn nhận, thái độ đánh giá. Phân biệt với lời của nhân vật – là lời gắn với ý thức và cách thể hiện của nhân vật (trực tiếp hoặc gián tiếp).
Từ điểm nhìn và hệ thống lời kể, các phương diện của đời sống và nhân vật được hiển hiện để người đọc tri nhận. Quyền năng của người kể chuyện thể hiện ở phạm vi miêu tả, phân tích, lý giải và mức độ định hướng đọc.
Cảm hứng chủ đạo của một tác phẩm là tình cảm, thái độ được thể hiện xuyên suốt đối với các vấn đề cuộc sống được nêu ra. Cảm hứng này chi phối hình thức thể hiện, tỏa ra toàn bộ tác phẩm và tác động mạnh đến cảm xúc người đọc.
Từ ngày ông thị trưởng gỡ cho Phăng-tin thoát khỏi Gia-ve, chị không gặp lại hắn lần nào. Đầu óc ốm yếu của chị không hiểu được gì, nhưng chị tin là hắn đến để bắt chị. Chị không thể chịu đựng được bộ mặt gớm ghiếc ấy, chị thấy như chết lịm đi chị lấy tay che mặt và kêu lên hãi hùng:
- Ông Ma-đơ-len, cứu tôi với!
Giăng Van-giăng – từ giờ chúng ta sẽ không gọi ông bằng cái tên nào khác – đứng dậy. Ông bảo Phăng-tin bằng một giọng hết sức nhẹ nhàng và điềm tĩnh:
- Cứ yên tâm. Không phải nó đến bắt chị đâu.
Rồi ông quay lại nói với Gia-ve:
- Tôi biết là anh muốn gì rồi.
Gia-ve đáp:
- Mau lên!
Trong cái điệu hắn nói lên hai tiếng ấy có cái gì man rợ và điên cuồng. [...] Không còn là tiếng người nói mà là tiếng thú gầm.
Hắn không làm như thường lệ. Hắn không mào đầu gì cả; hắn không chìa tờ trát truy nã ra. Hắn coi Giăng Van-giăng như một địch thủ bí hiểm và không sao bắt được, một đo vật lạ lùng hắn ôm ghì đã năm năm mà không thể quật giã. Lần này tóm được không phải là bắt đầu mà là kết thúc. Hắn chỉ bảo: Mau lên!
Hắn cứ đứng lì một chỗ mà nói; hắn phóng vào Giăng Van-giăng cặp mắt nhìn như cái móc sắt, và với cái nhìn ấy từng quen kéo giật vào hắn bao kẻ khốn khổ.
Chính cái nhìn ấy hai tháng trước đây Phăng-tin đã thấy nó đi thấy vào đến tận xương tuỷ.
Nghe thấy tiếng Gia-ve, Phăng-tin lại mở mắt ra. Nhưng ông thị trưởng vẫn đứng đó. Chị còn sợ gì nữa?
Gia-ve tiến vào giữa phòng và hét lên:
- Thế nào! Mày có đi không?
Người đàn bà khốn khổ này nhìn quanh. Chẳng có ai ngoài bà xơ và ông thị trưởng. Thế thì nó mày tao thô bỉ với ai? Chỉ là với chị. Chị rùng mình.
Rồi chị trông thấy một sự lạ lùng, đến mức ngay trong cơn sốt mê sảng hãi hùng nhất chị cũng chưa từng thấy một chuyện tương tự.
Chị thấy tên mật thám Gia-ve nắm lấy cổ áo ông thị trưởng; chị thấy ông thị trưởng cúi đầu. Chị tưởng như cả thế giới đang tiêu tan.
Đúng là Gia-ve đã túm lấy cổ áo Giăng Van-giăng.
- Ông thị trưởng ơi! Phăng-tin kêu lên.
Gia-ve phá lên cười, cái cười ghê tởm phô ra tất cả hai hàm răng.
- Ở đây làm gì còn có ông thị trưởng nữa!
Giăng Van-giăng không cố gỡ bàn tay hắn nắm cổ áo ông ra. Ông nói:
- Gia-ve...
Gia-ve ngắt lời ông:
- Gọi ta là ông thanh tra.
- Thưa ông, Giăng Van-giăng nói, tôi muốn nói riêng với ông câu này.
- Nói to! Nói to lên! Gia-ve đáp; ai nói với ta thì phải nói to!
Giăng Van-giăng vẫn thì thầm:
- Tôi cầu xin ông một điều...
- Ta bảo mày nói to lên cơ mà.
- Nhưng điều này chỉ một mình ông nghe được thôi...
- Ta cần gì điều đó? Ta không thèm nghe!
Giăng Van-giăng ghé gần hắn và hạ giọng nói thật nhanh:
- Xin ông thư cho ba ngày! Ba ngày để đi tìm đứa con cho người đàn bà đáng thương kia! Phải trả giá thế nào tôi cũng chịu. Nếu muốn, ông cứ đi kèm tôi cũng được.
- Mày nói giỡn! Gia-ve kêu lên. Chà chà! Tao không ngờ mày lại ngốc thế! Mày xin tao ba ngày để chuồn hả! Mày bảo là để đi tìm đứa tìm đứa con cho con đĩ kia! Á à! Tốt thật! Tốt thật đấy!
Phăng-tin run lên bần bật.
- Con tôi! Chị kêu lên. Đi tìm con tôi! Thế ra nói chưa đến đây! Bà xơ ơi! Cho tôi biết con Cô-dét đâu. Tôi muốn con tôi! Ông Ma-đơ-len ơi! Ông thị trưởng ơi!
Gia-ve giậm chân:
- Giờ đến lượt con này! Đồ khỉ, có câm họng không? Cái xứ chó đểu gì mà bọn tù khổ sai làm ông nọ ông kia, còn lũ gái điếm được chạy chữa như những bà hoàng! Nhưng này! Sẽ thay đổi hết; đã đến lúc rồi đấy!
Hắn nhìn Phăng-tin trừng trừng, lại túm một túm lấy cổ áo và ca-vát của Giăng Van-giăng, nói thêm:
- Tao đã bảo không có ông Ma-đơ-len, không có ông thị trưởng nào cả. Chỉ có một tên kẻ cắp, một tên kẻ cướp, một tên tù khổ sai là Giăng Van-giăng! Tao bắt được nó đây này! Chỉ có thế thôi!
Phăng-tin chống hai bàn tay và hai cánh tay cứng đơ vùng nhổm dậy, chị nhìn Giăng Van-giăng, chị nhìn Gia-ve, chị nhìn bà xơ, chị há miệng như muốn nói, từ trong họng thốt ra tiếng rên, răng đánh vào nhau cầm cập, chị hoảng hốt giơ tay lên, hai bàn tay cố sức mở tìm chỗ bám như người rơi xuống nước đang chơi với, rồi chị bỗng ngã vật xuống gối. Đầu chị đập vào thành giường rồi ngoẹo xuống ngực, miệng há hốc, hai mắt mở to và lờ đờ.
Phăng-tin đã tắt thở.
Giăng Van-giăng để tay lên bàn tay Gia-ve đang túm lấy ông, cậy bàn tay ấy ra như cậy bàn tay trẻ con và bảo hắn:
- Anh đã giết chết người đàn bà này rồi đó.
- Đừng có lôi thôi! Gia-ve phát khùng hét lên. Tao không đến đây để nghe lý sự. Dẹp những cái đó lại. Lính tráng đang ở dưới nhà. Đi ngay, không thì cùm tay lại!
Trong góc phòng có chiếc giường sắt cũ đã ọp ẹp, dùng để các bà xơ ngả lưng những hôm phải trực đêm. Giăng Van-giăng đi tới, giật gãy trong mắt chiếc giường cũ nát, việc làm chẳng khó khăn gì đối với những cơ bắp như của ông, ông cầm lăm lăm cái thanh giường trong tay và nhìn Gia-ve trừng trừng, Gia-ve lùi ra phía cửa.
Giăng Van-giăng tay vẫn cầm thanh sắt, từ từ đến bên giường Phăng-tin. Đến
nơi, ông quay lại nói với Gia-ve, bằng một giọng cố ý mới nghe rõ:
- Tôi khuyên anh đừng quấy rầy tôi lúc này.
Sự thật là Gia-ve run sợ.
Hắn định đi gọi lính tráng, nhưng lo Giăng Van-giăng thừa cơ trốn mất. Hắn đành đứng lại, tay nắm lấy đầu can, lưng tựa vào khung cửa, mắt không rời Giăng Van-giăng.
Giăng Van-giăng tì khuỷu tay lên thành giường, bàn tay đỡ lấy trán, ngắm Phăng-tin nằm dài không nhúc nhích. Ông ngồi như thế, mải miết, yên lăng, rõ ràng chẳng nghĩ đến điều gì trên đời này nữa. Trong nét mặt và dáng điệu ông cho thấy một nỗi thương xót khôn tả. Mơ màng một lúc lâu, ông mới cúi ghé lại gần và thì thầm bên tai Phăng-tin.
Ông nói gì với chị? Người đàn ông bị ruồng bỏ ấy có thể nói gì với người đàn bà đã chết? Những lời ấy là lời gì vậy? Chẳng ai trên thế gian này nghe được. Kẻ đã chết có nghe thấy không? Có những ảo tưởng cảm động, có thể là những sự thực cao cả. Điều mà chẳng ai nghi ngờ là bà xơ Xem-pli-xơ, người độc nhất chứng kiến cảnh ấy, thường kể lại lúc Giăng Van-giăng thì thầm bên tai Phăng-tin bà trông thấy rõ ràng một nụ cười không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt và trong đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng của chị khi đi vào cõi chết.
Giăng Van-giăng lấy hai tay nâng đầu Phăng-tin lên, đặt ngay ngắn giữa gối như một người mẹ sửa sang cho con. Ông thắt lại dây rút cổ áo chị, vén gọn mớ tóc vào trong chiếc mũ vải. Rồi ông vuốt mắt cho chị.
Lúc ấy gương mặt Phăng-tin như sáng rỡ lên một cách lạ thường.
Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại.
Bàn tay Phăng-tin buông thông ngoài giường. Giăng Van-giăng quỳ xuống trước bàn tay ấy, nhẹ nhàng nâng lên và đặt vào đấy một nụ hôn.
Rồi ông đứng dậy, quay về phía Gia-ve và nói:
- Giờ thì tôi thuộc về anh.
Phăng-tin bị Gia-ve bắt bỏ tù, nhờ có Giăng Van-giăng chị mới thoát nạn rồi được đưa vào bệnh xá. Trong lúc đang hết lòng cứu giúp Phăng-tin, Giăng Van-giăng lại quyết định ra tòa tự thú vì muốn cứu một nạn nhân bị Gia-ve bắt oan.
Đoạn trích kể lại tình huống Gia-ve dẫn lính đến bắt Giăng Van-giăng khi ông đến thăm Phăng-tin ở bệnh xá. Khi Gia-ve xuất hiện, Phăng-tin tưởng hắn đến bắt mình nên vô cùng sợ hãi.
Vì không muốn dập tắt hy vọng của Phăng-tin, Giăng Van-giăng đã hạ mình cầu xin Gia-ve cho ông ba ngày để tìm ra con gái của chị. Nhưng Gia-ve tàn nhẫn tuyên bố Giăng Van-giăng là một tên tù khổ sai vượt ngục và sẽ bị bắt lập tức. Nghe những lời ấy, Phăng-tin tuyệt vọng và qua đời.
Căm phẫn trước sự tàn nhẫn của Gia-ve, Giăng Van-giăng khôi phục uy quyền khiến hắn phải run sợ. Sau đó, ông đến bên Phăng-tin, nói những lời cuối cùng, rồi quay về phía Gia-ve và nói: “Giờ thì tôi thuộc về anh.”
Audio tác phẩm văn học: Người cầm quyền khôi phục uy quyền
Văn bản 1: Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Victor Hugo)
Vị trí: Vích-to Huy-gô (1802 – 1885) là nhà văn nổi tiếng nước Pháp thế kỉ XIX, là chủ soái của dòng văn học lãng mạn tích cực.
Cuộc đời:
Thời thơ ấu: trải qua nhiều đau khổ do gia đình mâu thuẫn.
Ông sinh ra và lớn lên trong thế kỉ XIX, một thế kỉ đầy bão tố cách mạng
Ông là một người suốt đời có những hoạt động xã hội và chính trị tác động mạnh mẽ đến những nhân vật và khuynh hướng tiến bộ của thời đại.
Phong cách nghệ thuật:
Mỹ học lãng mạn kết hợp với cảm quan hiện thực tạo nên sức lôi cuốn và thuyết phục của lí tưởng thẩm mỹ V. Huy-go đối với cuộc đời. Đó là Cái đẹp của Tình thương yêu hòa đồng, của Hạnh phúc bình đẳng và của sự Tiến bộ vô tận của Con người. Và đó chính là giá trị bất hủ của ý nghĩa nhân văn trong tác phẩm Victor Hugo.
Ông đã không ngần ngại xác định chức năng của nghệ sĩ như là một "nhà tiên tri", một "pháp sư", mà tác phẩm là một "âm vang" của thời đại, hòa hợp cá nhân người sáng tạo với dân tộc, nhân loại và lịch sử trong nhiệm vụ cải tạo cuộc sống để do đó khẳng định vai trò và sứ mệnh cao quí của người nghệ sĩ.
2. Tiểu thuyết những người khốn khổ

+ Tác phẩm được thai nghén gần 30 năm.
+ Ngay từ 1829,V.Huy-gô đã có ý định viết một cuốn tiểu thuyết về người tù khổ sai. Sau năm 1830 Huy-gô đặc biệt chú ý đến các vấn đề xã hội (phong trào đấu tranh của nhân dân lao động, những bất công xã hội, sự sa đoạ của con người). Huy-gô bắt tay vào việc sưu tầm tài liệu và bắt đầu viết bộ tiểu thuyết này vào năm 1840, thoạt đầu gọi là “Những cảnh cùng khổ” và hoàn thành nó vào năm 1861.
+ Được xuất bản năm 1862
+ Phần thứ nhất: Phăng-tin
+ Phần thứ hai: Cô-dét
+ Phần thứ ba: Ma- ri-uýt
+ Phần thứ 4: Tình ca phố Pơ- luy- mê và anh hùng ca phố Xanh Đơ- ni.
+ Phần thứ 5: Giăng Van- giăng.
+ Tư tưởng: Tác phẩm đã ghi lại những nét hiện thực về xã hội Pháp vào khoảng năm 1830 - cái xã hội tư sản tàn bạo và tình trạng cùng khổ của người dân lao động.
+ Nghệ thuật: Tác phẩm chứng tỏ được tài năng của Huy-gô qua bút pháp mang khuynh hướng nghệ thuật lãng mạn.
V. NHIỆM VỤ TRƯỚC KHI ĐẾN LỚP
1. Đọc văn bản
- Tìm hiểu tri thức Ngữ văn qua thẻ ghi nhớ Flashcard.
- Đọc văn bản Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Trích Những người khốn khổ – Victor Hugo), và nghe audio tác phẩm
- Xem, gạch chân các từ khóa nội dung về văn bản Người cầm quyền khôi phục uy quyền và tác giả Victor Hugo, chú ý các thẻ đọc xuất hiện trong bài.
- Thực hiện trò chơi “Giải ô chữ” trên website.
2. Nghe và thực hiện các nhiệm vụ trong bài giảng Scorm
- Tóm tắt tác phẩm Những người khốn khổ và ghi vào vở
- Theo em, thế nào là một con người có uy quyền?
- Xác định những sự kiện chính trong văn bản. Văn bản có thể chia thành mấy phần?
- Nhân vật Giang Van-giăng và Gia-ve có những đặc điểm nào về ngoại hình, lời nói, hành động, thái độ? Hãy nhận xét thái độ của người kể chuyện về các nhân vật này? Trong đoạn trích, theo em, nhân vật nào thực sự có uy quyền?
- Hoàn thành hệ thống câu hỏi trên ispring.
3. Chia sẻ cảm nhận trên thư mục "Cộng đồng"